Rất khó để giao chỉ tiêu TTTD, bởi đó là quan hệ thị trường.
Theo ông, tín dụng sẽ chảy mạnh vào lĩnh vực nào trong năm 2014?
Tôi cho rằng, tín dụng vẫn nối chảy vào 5 lĩnh vực ưu tiên mà hệ thống ngân hàng đang tụ họp là DNNVV, nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp phụ trợ, công nghệ cao. Trong 5 lĩnh vực trên, theo tôi, vốn ngân hàng sẽ chảy nhiều vào lĩnh vực xuất khẩu, nông nghiệp nông thôn, và trong một chừng đỗi nhất thiết là công nghiệp phụ trợ, DNNVV… Nhưng, tốt nhất vẫn là xuất khẩu. Vì năm 2014, khi nền kinh tế có dấu hiệu hồi phục, xuất khẩu vẫn là đầu tàu tăng trưởng tốt. Hơn thế, xuất khẩu ở Việt Nam kèm theo nhập cảng với quy mô lớn như vậy thì nhu cầu tín dụng cũng sẽ cao.
Vậy, mục tiêu tăng trưởng tín dụng (TTTD) trong năm 2014 ở mức 12 – 14% có khả thi?
Tôi nghĩ năm 2013, TTTD đạt đích đề ra thì năm 2014, với tình hình kinh tế được cải thiện hơn, chúng ta cũng có thể đạt được. Nhưng, tôi cho rằng, rất khó để giao chỉ tiêu TTTD, bởi đó là quan hệ thị trường. Mà đã là thị trường rất khó có thể ra lệnh được.
Những năm trước đây, mức TTTD của chúng ta rất lớn nhưng hiệu quả lại không xứng. Do đó, không nên dựa vào quá cố để đưa ra mức tăng trưởng cao nữa mà nên dùng hiệu quả phần tín dụng còn dôi dư những năm trước. Như thế là tốt lắm rồi. Còn nếu các NHTM vẫn muốn cố kỉnh để cho vay thì không khó để đạt được. Nhưng tôi lưu ý rằng, đối với TTTD thì tầng lớp cần lượng, nhưng chất là ngân hàng phải chịu. Nếu có xảy ra rủi ro thì chỉ ngân hàng hứng chịu đầu tiên.
Bài học từ thực tế của TTTD cao những năm trước là bây giờ, các nhà băng đang phải gánh chịu hậu quả với nợ xấu cao. Do đó, các nhà băng phải cân đối giữa lượng và chất tín dụng. Cho đến nay cũng chưa chứng minh được mối quan hệ tỷ lệ tăng trưởng tín dụng như thế nào là phù hợp với tăng trưởng kinh tế trong điều kiện của Việt Nam. Đó là chưa kể, Việt Nam đang muốn chuyển đổi mô hình kinh tế. Khi chuyển đổi mô hình kinh tế như chúng ta kỳ vọng thì nền kinh tế Việt Nam kiên cố ít dựa vào vốn tín dụng hơn. Tóm lại, ý kiến của tôi là không nhất quyết phải TTTD cao mới có tăng trưởng kinh tế tương ứng.
Theo ông, lãi suất có thể giảm thêm để xúc tiến TTTD năm 2014?
Dư địa điều chỉnh lãi suất còn rất hẹp, giả dụ không nói là “hết cửa”. Hiện tại, lãi suất huy động đang ở mức khoảng 7%/năm và sang năm 2014 khó có thể dưới mức này được. Có thể có quan điểm cho rằng, trong thời kỳ kinh tế cần sự tăng trưởng thì không nên để mức lãi suất thực dương cho người gửi tiền. Nhưng thời khắc này, ở Việt Nam thì khó có thể thực hành được. Nếu giảm thêm lãi suất huy động, khả năng dòng tiền chảy mạnh ra khỏi nhà băng là rất lớn.
Còn lãi suất cho vay giảm thêm nữa chắc chắn các DN có động lực vay nhiều hơn. Nhưng khi đầu vào khó giảm thêm, nếu các ngân hàng muốn giảm lãi suất cho vay cho khách hàng thì chắc phải bằng lòng tiết giảm tổn phí, giảm lãi. Năm 2013, thực ra các nhà băng lãi không lớn, nếu không muốn nói nhiều ngân hàng đã lỗ, do tăng trích lập ngừa rủi ro. Nên năm 2014, nếu việc xử lý nợ xấu tốt hơn, các nhà băng sẽ không phải dùng đề phòng rủi ro và có thể hoàn vốn, tăng lợi nhuận. Khi đó, có thể tính đến việc giảm lãi suất cho vay thêm 1 – 2%/năm. Hoặc NHNN có thể cân nhắc hình thức tương trợ cho NHTM.
Tuy nhiên, NHNN cũng phải coi xét các NHTM sử dụng vốn có tốt không. Nếu ngân hàng huy động 100 đồng nhưng chỉ cho vay được 50 đồng, còn dư tiền mà chẳng thể cho vay được sẽ rất phung phí. Theo tôi, nếu NHNN có ý định hỗ trợ cho các NHTM thì tốt nhất tương trợ bằng lãi suất, hơn là bơm tiền vì các ngân hàng đang ế vốn.
Lãi suất giảm, DN sẽ vay nhiều hơn...
Có quan điểm cho rằng, NHNN nên để tự do hóa lãi suất huy động sẽ giúp giảm mặt bằng lãi suất cho vay. Ông nghĩ sao về điều này?
Tôi cho rằng, không cấp thiết phải đặt ra vấn đề tự do hóa lãi suất thời khắc này, bởi NHNN chỉ còn áp dụng trần lãi suất huy động từ 6 tháng trở xuống. Trên thực tại, hiện tại các ngân hàng đều muốn có mức lãi suất cho vay tốt để cuộn khách hàng, nên họ phải tự cân đối lãi suất đầu ra – đầu vào. Và, không nhà băng nào lại huy động đầu vào cao mà cho vay ra thấp được.
Mặt khác, trước đây NHNN đặt ra trần lãi suất để ngăn các NHTM yếu kém làm bừa. Nhưng ngày nay, các nhà băng yếu kém về cơ bản đã được NHNN xử lý rồi. Hơn thế, thị trường tiền tệ cũng đã được thiết lập kỷ cương khá tốt nên các ngân hàng lớn, nhỏ đều không dám liều như trước đây. Nên thời điểm này, trần lãi suất không còn tác động nhiều đến các “quyết định” của nhà băng.
Nhiều năm qua, chính sách tiền tệ chịu sức ép trong vai trò kênh dẫn vốn đẵn cho nền kinh tế. Trong năm 2014, theo ông, chính sách tiền tệ và tài khóa sẽ phối hợp thế nào để giảm áp lực cho chính sách tiền tệ?
Tôi cho rằng, quan yếu nhất trong phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa là NHNN phải cân nhắc dùng nguồn vốn. Hiện cái khó trong điều hành chính sách tiền tệ là vốn ngân hàng vừa phải tài trợ quốc gia, Chính phủ ưng chuẩn mua trái khoán Chính phủ, vừa phải cho vay DN. Giờ cần phải cân nhắc chọn lựa phương án: Nếu NHTM nào không đưa được tín dụng ra nhiều thì mới mua trái khoán Chính phủ.
Nói chung, không nên khuyến khích ngân hàng mua trái khoán Chính phủ mà nên để cho nhiều đối tượng khác mua, ví dụ tư nhân. Nhất là, nếu vốn huy động từ phát hành trái khoán không được cung ứng dựa trên cơ chế thị trường, mà lại trên mệnh lệnh hay tài trợ quá mức, thì vững chắc sẽ gây hệ quả bất ổn vĩ mô.
Theo tôi, trên đây là gốc vấn đề về sự kết hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa mà từ lâu nay chưa được giải quyết triệt để.
Xin cảm ơn ông!
Theo Thời báo ngân hàng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét